Menu

Thông báo

Truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 16


Hôm nayHôm nay : 2605

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 171309

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7801436

Quảng cáo


Trang nhất Trang nhất Tin Tức Trang nhất Hoạt động nhà trường

Hợp tác Trường - viện - Doanh nghiệp trong đào tạo và nghiên cứu khoa học

Thứ năm - 11/02/2016 11:22
Vai trò thiết yếu của việc liên kết 3 “nhà” trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) đã được nhắc đến từ lâu. Chủ trương "bảo đảm kết hợp giữa viện nghiên cứu và trường đại học, gắn nghiên cứu - triển khai với sản xuất - kinh doanh" của Đảng và Nhà nước đã được nêu rõ trong Nghị quyết TW2, khóa VIII, và đã được quán triệt ở nhiều cấp lãnh đạo và nhiều đơn vị triển khai.
Vai trò thiết yếu của việc liên kết 3 “nhà” trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) đã được nhắc đến từ lâu. Chủ trương "bảo đảm kết hợp giữa viện nghiên cứu và trường đại học, gắn nghiên cứu - triển khai với sản xuất - kinh doanh" của Đảng và Nhà nước đã được nêu rõ trong Nghị quyết TW2, khóa VIII, và đã được quán triệt ở nhiều cấp lãnh đạo và nhiều đơn vị triển khai.
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, số kết quả nghiên cứu của các viện/trường đại học đến được với doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường còn hết sức khiêm tốn, phản ánh thực tế là vẫn còn nhiều trở ngại cho mối liên kết hợp tác viện/trường đại học và doanh nghiệp.
Một trong những điểm sáng hiếm hoi trong mối quan hệ này là Quan hệ hợp tác giữa Công ty Cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông và trường Đại học Bách khoa Hà Nội được bắt đầu từ năm 2007, khi trường đại học lớn này chuyển giao cho công ty công nghệ sản xuất một số nguyên vật liệu làm đèn chiếu sáng vốn trước đây vẫn phải nhập khẩu. Theo đánh giá của GS.VS Nguyễn Văn Hiệu: “quan hệ hợp tác giữa Rạng Đông và trường Đại học Bách khoa Hà Nội như một mối lương duyên mà cả hai bên đều may mắn khi gặp được nhau…”.
Hợp tác trường – Viện – Doanh nghiệp tại Khoa Cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa, trường Đại học Công nghệ
Vì vậy, ngay từ khi mới được thành lập, Trường Đại học Công nghệ (ĐHCN) đã coi hoạt động liên kết với các viện nghiên cứu, cơ sở sản xuất là một đặc thù trong quá trình xây dựng và phát triển. Trường đã và đang khai thác nhiều điều kiện và nhân tố thuận lợi để triển khai thành công quan hệ hợp tác liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp.
Với sứ mệnh “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu phát triển và ứng dụng các lĩnh vực khoa học – công nghệ tiên tiến trên cơ sở phát huy thế mạnh về Công nghệ Thông tin và Truyền thông; tiên phong tiếp cận chuẩn mực giáo dục đại học khu vực và thế giới, đóng góp tích cực vào sự phát triển nền kinh tế và xã hội tri thức của đất nước.” [2], ngay trong nội dung hoạt động của Nhà trường đã bao hàm nhu cầu tất yếu là phải liên kết, hợp tác ở trình độ cao với các viện nghiên cứu, đặc biệt các viện chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện HL KH&CN Việt Nam). “Hợp tác này là một đặc trưng của mô hình đại học nghiên cứu. Đó vừa là phương thức vừa là mục tiêu nhằm tới sự phát triển của từng đối tác và cả sự phát triển chung của sự nghiệp khoa học - công nghệ và giáo dục đại học của nước nhà” [3].
PGS.TS. Đinh Văn Mạnh - Viện Trưởng Viện Cơ học, viện HL KH&CN Việt Nam
 
Ngay từ thời điểm trường ĐHCN được thành lập, GS. VS Nguyễn Văn Hiệu (Hiệu trưởng đầu tiên của nhà trường) đã trực tiếp chỉ đạo, thực hiện ký kết các văn bản thỏa thuận hợp tác liên kết với Viện Công nghệ Thông tin, Viện Vật lý - Điện tử, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Cơ học, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hóa học thuộc Viện KH&CN Việt Nam, Viện Điện tử - Tin học – Tự động hóa thuộc Bộ Công Thương. GS Nguyễn Hữu Đức, Hiệu trưởng nhiệm kỳ tiếp theo, đã tiếp tục phát triển mở rộng các quan hệ hợp tác này với một số đối tác mới như: Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp thuộc Bộ Công Thương (Tập đoàn IMI), Viện Khoa học và Công nghệ Vũ trụ thuộc Viện HL KH&CN Việt Nam. Năm 2013, Nhà trường tiếp tục ký kết hợp tác với Viện Nghiên cứu Cơ khí và Trung tâm Vệ Tinh Quốc gia.
Thực tiễn triển khai hợp tác giữa trường ĐHCN với các viện nghiên cứu chuyên ngành trong thời gian 10 năm vừa qua cho thấy mô hình hợp tác trường - viện trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu đã đi đúng hướng và có tính bền vững cao, khẳng định ý nghĩa chiến lược lâu dài của mô hình liên kết đối với sự phát triển của trường ĐHCN và cả của các viện nghiên cứu - triển khai.
Giai đoạn đầu, hợp tác chủ yếu mới dừng lại ở mức các Viện nghiên cứu cử cán bộ tham gia giảng dạy tại trường ĐHCN cũng như tạo điều kiện để sinh viên của trường được thực tập tại các phòng thí nghiệm của viện.
Giai đoạn 2005-2009 tiếp tục được cụ thể hóa bằng mô hình “đơn vị phối thuộc”. “Đơn vị phối thuộc” làm đầu mối thực hiện đào tạo đại học và sau đại học một số chuyên ngành có ý nghĩa chiến lược đối với cả trường ĐHCN và viện đối tác, được coi như “con đẻ” và chịu sự quản lý điều hành của cả hai cơ quan. Từ các ý tưởng này, tại trường ĐHCN, Khoa Cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa  (CHKT&TĐH) đã được thành lập và đi vào hoạt động với tư cách một đơn vị (khoa) phối thuộc của Viện Cơ học. Tương ứng, một số phòng thí nghiệm của Viện Cơ học cũng là phòng thí nghiệm phối thuộc của trường ĐHCN. 
Giai đoạn 2010 đến nay, Mô hình hợp tác 2 + “x” được triển khai trong phát triển khoa phối thuộc, theo đó nền tảng phát triển của khoa Cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa (CHKT&TĐH) là hợp tác chiến lược giữa trường ĐHCN và Viện Cơ học, việc mở rộng hợp tác với các viện nghiên cứu khác trong phát triển khoa CHKT&TĐH được thực hiện trên nền tảng hợp tác bền chặt này.
Việc thành lập và duy trì, phát triển hoạt động đơn vị phối thuộc của trường ĐHCN và các viện nghiên cứu để làm đầu mối phối hợp thực hiện đào tạo đại học và sau đại học một số chuyên ngành, triển khai một số nghiên cứu có ý nghĩa chiến lược đối với tất cả các bên đối tác.
Trước hết, trường ĐHCN huy động được nguồn lực khoa học - công nghệ mạnh từ các viện cho nhiệm vụ đào tạo đối với các chuyên ngành này, tạo điều kiện đưa chất lượng đào tạo sớm đạt tới các chuẩn mực cao. Các phòng thí nghiệm (PTN) phối thuộc: PTN Cơ học và Môi trường Biển, PTN Chẩn đoán Kỹ thuật (từ Viện Cơ học); Các PTN Điều khiển Máy tính, Các Công nghệ Đặc biệt, Điều khiển Hệ thống (từ Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp tức Tập đoàn IMI),… có trang thiết bị hiện đại, đáp ứng ngay nhu cầu đào tạo chất lượng cao của các chuyên ngành tương ứng. trường ĐHCN chủ trương sử dụng lâu dài các PTN phối thuộc này và sẽ tập trung vào việc xây dựng các PTN (bộ môn) hiện đại đối với các chuyên ngành cần có trong trường ĐHCN mà hiện tại chưa mạnh ở các viện. Giải pháp này trở nên có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn ban đầu xây dựng trường ĐHCN.
Tiếp theo, thông qua việc hợp tác này, các viện nghiên cứu sẽ khai thác và phát huy cao độ các nguồn lực cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ của mình góp phần trực tiếp đào tạo cán bộ khoa học cho đất nước nói chung và bổ sung nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao cho viện nói riêng. Từ khi thành lập đến nay, chất lượng tuyển sinh đầu vào của trường ĐHCN luôn thuộc diện cao nhất nước. Thông qua việc giảng dạy và hướng dẫn sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, các nhà khoa học tại các viện nghiên cứu có thêm học trò đi theo hướng nghiên cứu của mình, mở rộng phạm vi tìm kiếm và đào tạo cán bộ khoa học kế cận,  mở rộng quy mô các đề tài nghiên cứu - triển khai của cả hai bên.
Các PTN phối thuộc của trường ĐHCN là những PTN mạnh trên các lĩnh vực tiên tiến của các viện nghiên cứu, sẽ đảm nhận nhiệm vụ đào tạo và hỗ trợ nghiên cứu đối với các chuyên ngành tương ứng của trường ĐHCN, không chỉ trong thời gian trước mắt mà còn về lâu dài. Mô hình này còn cho phép trường ĐHCN khai thác hiệu quả lực lượng cán bộ khoa học trình độ cao và các điều kiện mặt bằng - cơ sở vật chất từ các viện vào việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nó đặc biệt có ý nghĩa đối với một trường ĐHCN mới được thành lập, từng bước định hình mô hình hoạt động và cũng sẽ còn tiếp tục đóng góp vào sự phát triển bền vững của Trường trong những năm tới.
Trách nhiệm và quyền lợi của các đối tác đã được thống nhất trong các văn bản thỏa thuận. Hợp đồng "giảng viên kiêm nhiệm" (trong đó giảng viên kiêm nhiệm có nhiệm vụ hoàn thành 1/3 khối lượng công việc của giảng viên cơ hữu và tương ứng nhận 1/3 mức lương từ trường ĐHCN) mà trường ĐHCN ký với các nhà khoa học thuộc các viện đối tác cho phép huy động được một lượng nhân lực khoa học trình độ cao cho trường.
Cho đến nay, Khoa CHKT&TĐH có một số nét khác biệt trong tổ chức và hoạt động như sau:
- Về đội ngũ giảng viên của khoa gồm: giảng viên thuộc biên chế của trường ĐHCN và cán bộ khoa học thuộc biên chế của Viện Cơ học. Cán bộ khoa học thuộc Viện Cơ học tham gia làm việc và giảng dạy tại Khoa CHKT&TĐH được hưởng thêm 1/3 lương ngạch bậc do trường ĐHCN chi trả.
- Viện trưởng Viện Cơ học trực tiếp làm Chủ nhiệm Khoa CHKT&TĐH, Phó Viện Trưởng phụ trách đào tạo kiêm Phó Chủ nhiệm khoa phụ trách đào tạo Sau đại học (điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Viện Cơ học đối với sự hoạt động và phát triển của Khoa) và 02 Phó chủ nhiệm Khoa là giảng viên cơ hữu của Trường.
- Hiện nay, khoa có 29 giảng viên (14 cán bộ cơ hữu của trường ĐHCN và 15 cán bộ nghiên cứu của Viện) trong đó có 4 GS, 11 PGS, 7 TS, 7 ThS. Trong giai đoạn 2007 đến nay, khoa tiếp nhận 2 tiến sỹ người Hàn Quốc làm việc tại khoa theo chương trình trao đổi nhân lực trong đó có 1 tiến sỹ làm việc thường xuyên, khoa có 07 giảng viên kiêm nhiệm hưởng thù lao theo nhiệm vụ.
- Khoa được tổ chức gồm 4 Bộ môn: Thủy khí Công nghiệp và Môi trường, Công nghệ Cơ điện tử, Công nghệ biển và Môi trường, Công nghệ Hàng không vũ trụ. trường ĐHCN tập trung đầu tư và phát triển 2 Bộ môn đặt tại Trường, và cùng Viện đối tác phát triển hai bộ môn phối thuộc là thế mạnh của Viện.
- Cơ sở vật chất của khoa được Trường và Viện quan tâm bố trí: cơ sở 1 đặt tại trường ĐHCN (170 m2 gồm văn phòng, Bộ môn, Phòng thí nghiệm) và cơ sở 2 đặt tại Viện Cơ học (250 m2 gồm văn phòng, giảng đường, Bộ môn và phòng thí nghiệm).   
- Khoa CHKT&TĐH thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học của trường ĐHCN và Viện Cơ học. Kinh phí thực hiện nhiệm vụ được trường ĐHCN và Viện Cơ học cấp theo nhiệm vụ tương ứng giao cho khoa.
- Trường ĐHCN phối hợp với Viện Cơ học giao cho Khoa CHKT&TĐH làm đầu mối chủ trì tổ chức Hội nghị quốc tế về cơ học kỹ thuật và tự động hóa ICEMA 2 năm một lần.
 Từ thực tiễn hoạt động trong thời gian qua đã chỉ ra mô hình Hợp tác Trường – Viện – Doanh nghiệp có những thuận lợi và khó khăn
 Mô hình khoa phối thuộc sau 10 năm hoạt động đã chứng minh được hiệu quả, là minh chứng cho sự vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng và Nhà nước về sự kết hợp giữa Trường đại học và Viện nghiên cứu. Vì vậy, mô hình này đã được Đảng và Nhà nước ta chủ trương thúc đẩy và được coi như một giải pháp tích cực để phát huy hiệu quả nội lực khoa học - công nghệ - giáo dục Việt Nam trong chiến lược phát triển khoa học - công nghệ - giáo dục đại học của đất nước.
Bản thân hoạt động hợp tác Trường - Viện – Doanh nghiệp sản xuất có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của các bên đối tác liên quan, hoạt động này vừa được coi là biện pháp vừa là mục tiêu nhằm phát triển của từng đối tác và vì sự phát triển chung.
Hợp tác giữa trường ĐHCN và Viện Cơ học cũng như các viện đối tác khác đã trải qua chặng đường 10 năm với mỗi giai đoạn có sự điều chỉnh cho phù hợp, mô hình hợp tác ngày càng rõ nét và chứng minh hiệu quả đặc biệt trong triển khai hoạt động khoa phối thuộc và các phòng thí nghiệm phối thuộc. Do thống nhất quan niệm các đơn vị phối thuộc là “con đẻ” của sự hợp tác và là bộ phận hữu cơ của mỗi chủ thể hợp tác Trường – Viện, Trường – Doanh nghiệp, nên các đối tác đều thấy rõ quyền lợi của mình trong đó và do vậy đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm chút để đứa “con đẻ” của mình phát triển. Đây chính là điểm mấu chốt, quan trọng bước đầu tạo nên thành công của mô hình hợp tác, liên kết Trường đại học – Viện nghiên cứu tại trường ĐHCN.
Đã từng bước hình thành các cơ chế chính sách phù hợp trong hợp tác Trường – Viện (kinh phí thường xuyên, kinh phí sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất, PTN, quyền lợi và nghĩa vụ của GV kiêm nhiệm ...).
Viện HL KH&CN Việt Nam và ĐHQGHN đã ký kết hợp tác (ngày 17/5/2014) với nội dung: Về hoạt động khoa học công nghệ và đào tạo, hằng năm, ĐHQGHN và Viện HL KH&CN Việt Nam thống nhất phối hợp xây dựng chương trình, nhiệm vụ nghiên cứu chung; phối hợp trong việc tạo ra các sản phẩm khoa học công nghệ hữu hình mang thương hiệu chung, trên cơ sở thế mạnh của mỗi bên; phối hợp thực hiện một số nhiệm vụ liên ngành mà hai bên có thế mạnh nhằm tạo ra sản phẩm khoa học công nghệ quốc gia; tăng cường khai thác sử dụng các trang thiết bị tại các phòng thí nghiệm của hai bên; trao đổi thông tin khoa học công nghệ dưới dạng chia sẻ các xuất bản khoa học công nghệ và học liệu; phối hợp nhằm thương mại hóa một số sản phẩm KHCN mà hai bên cùng quan tâm; xem xét việc thành lập các phòng thí nghiệm phối thuộc; phát triển chất lượng nguồn nhân lực KHCN thông qua việc trao đổi chuyên gia dưới dạng các hợp đồng giảng dạy hoặc nghiên cứu; hai bên thực hiện việc tiếp nhận sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thực tập tại các phòng thí nghiệm; nhận hướng dẫn và đồng hướng dẫn NCS, học viên cao học; tham gia cùng đào tạo các cấp ĐH và SĐH; liên kết đào tạo ở bậc SĐH trên cơ sở thế mạnh của hai bên, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực cho hai bên theo Đề án 911 trình Chính phủ phê duyệt; phối hợp thành lập mô hình đào tạo liên kết theo phương thức đào tạo gắn với nghiên cứu; phối hợp xây dựng chuyên ngành đào tạo mới với sự tham gia của các bên; xem xét việc thành lập các khoa phối thuộc thông qua hình thức Trưởng khoa kiêm nhiệm; xem xét công nhận chương trình đào tạo, chứng chỉ và bằng cấp của nhau tùy theo từng trường hợp cụ thể.
            Hoạt động hợp tác đã được cả trường ĐHCN và Viện Cơ học đặc biệt quan tâm, chăm lo, và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, kết quả hợp tác trong giai đoạn vừa qua vẫn chủ yếu dựa trên sự tin cậy lẫn nhau giữa hai cơ quan. Thực tiễn triển khai cần có cơ chế chính sách (bằng văn bản) cho mô hình đặc thù này đặc biệt là cơ chế đảm bảo nguồn lực: nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất,...
ĐHQGHN và Viện HL KH&CN Việt Nam cần quan tâm hơn nữa các chính sách với nhà giáo, hoạt động KHCN và đầu tư cơ sở vật chất
Như đã nêu trên, trong mô hình khoa phối thuộc, khoa CHKT&TĐH có đội ngũ cán bộ cơ hữu là giảng viên cơ hữu của trường ĐHCN và cán bộ khoa học cơ hữu của Viện Cơ học. Cơ sở vật chất, phòng học, phòng thí nghiệm của khoa được bố trí ở cả trường ĐHCN và Viện Cơ học. Đây là những điểm đặc thù đã được ghi nhận. Tuy nhiên, trong thực tế, quan niệm về điểm đặc thù này trong mô hình khoa phối thuộc trong một số trường hợp không nhất quán chẳng hạn trong các chính sách đối với nhà giáo, hoạt động KHCN, đầu tư cơ sở vật chất,... đề nghị lãnh đạo ĐHQGHN và Viện HL KH&CN Việt Nam quan tâm tháo gỡ:
   - Cần cơ chế, chính sách khuyến khích và hỗ trợ cán bộ khoa học của Viện tham gia các nhiệm vụ hợp tác trường đại học – viện nghiên cứu, cụ thể là hoạt động của khoa phối thuộc. Đề xuất cơ quan có thẩm quyền xét tặng các danh hiệu nhà giáo đối với giảng viên của khoa (là cán bộ Viện Cơ học) đủ tiêu chuẩn như đối với giảng viên cơ hữu của trường ĐHCN.
   - Áp dụng các chính sách về hoạt động KHCN đối với giảng viên kiêm nhiệm của khoa như đối với cán bộ của Trường/Viện. Đồng thời, tạo điều kiện để trường ĐHCN và Viện Cơ học xây dựng và triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu phối hợp có sự đầu tư kinh phí của cả hai cơ quan.
   -  Quan tâm đến cơ chế đầu tư, đảm bảo kinh phí, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất, giảng đường, phòng thí nghiệm của khoa (cơ sở 1, cơ sở 2).
   - Nâng cao hơn nữa chất lượng thực hành, thực tập cho sinh viên: cần có những chính sách khuyến khích để có được các cơ sở thực tế, thực tập đa dạng và ổn định thông qua các thỏa thuận với các cơ sở nghiên cứu, sản xuất khác.
 Theo PGS.TS. Đinh Văn Mạnh - Trích Kỷ yếu "15 năm xây dựng và trưởng thành" 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Hình ảnh

Video

Văn nghệ

Thời khóa biểu

  • TKB HK2
    TKB Phụ đạo K12Tải về
  • TKB HK1
    TKB HK1 (áp dụng từ ngày 16/3)Nhấn vào đây để tải về